Truyện ngắn Cập nhật lúc 09:12:52 01/01/2015  (Lượt xem:  1479 )
Hòa bình trước giao thừa

Hòa bình trước giao thừa

BT- Tiếng động bên ngoài, rồi tiếng gõ cửa. Tôi bước ra, trông thấy anh. Anh tên Hai,  hàng xóm của tôi hơn ba tháng nay, tính từ lúc tôi chuyển về phố Trần Quang Diệu... Anh to ngang, tuổi chừng ngoài năm mươi, không nói là lực lưỡng, nhưng  vài ba thanh niên có ý định gây sự sẽ chẳng làm gì được anh. Sau vài giây  bất ngờ, tôi mời anh vào trong, chỗ đặt bộ ghế sa lon, cạnh chiếc cửa sổ, nơi mà từ đó nhìn ra có thể thấy con đường cái chạy ngang qua nhà. Anh ngồi xuống ghế, tựa lưng vào nệm, hai cánh tay khoanh trước ngực, mỉm cười. Sực nhớ chưa lấy nước mời khách, tôi bảo anh chờ chút xíu, rồi bước nhanh ra nhà sau. Trong lúc làm việc đó, tôi không khỏi nghĩ đến việc anh sang tôi vào lúc này. Đây là lần đầu tiên, chúng tôi  nói chuyện với nhau trong căn nhà tôi thuê, trừ vài lần ở bên ngoài. Tôi  nghĩ phải chăng vì anh có chân trong ban điều hành khu phố tôi ở, muốn vận động  tôi giúp đỡ người nghèo ăn tết, góp quỹ  trang hoàng hội trường khu phố, hoặc nhắc chuyện vệ sinh chung vì ngày mai đã là tết? Nếu thế tôi sẽ đáp ứng  yêu cầu, cũng như nói với anh non nửa giờ tới tôi  về quê đón tết, nhờ anh trông coi chừng  nhà cửa trong những ngày tới. Mãi nghĩ, không để ý hai chiếc cốc đã  đầy nước. Đó là thứ nước Vĩnh Hảo trong vắt chứa trong thùng 10 lít và những người như tôi chỉ cần mua từng thùng, uống hết lại đổi. Cầm hai cốc nước tôi quay lại chỗ anh,  định bụng nói tôi không dùng trà thì anh  bảo: “Qua thăm nhau một chút vì thế nào anh cũng về quê, sẽ không gặp nhau trong mấy ngày tới”. “Không lúc này thì lúc khác anh à”, tôi nói, lòng thầm cảm ơn anh. Cầm ly nước, anh xoay xoay nó trong lòng hai bàn tay, rồi nhìn ảnh Hân được lồng kính treo trên tường đối diện. Trông cách anh nhìn, tôi nghĩ anh đang suy đoán về người trong ảnh, nên đùa: “Vợ tôi đó anh. Tôi mang theo ảnh phòng khi nào lộn xộn thì có cô ấy để quay về”. Anh à nhỏ trong miệng, gật gù như hiểu ra điều gì.  Rồi anh lại mỉm cười. Bắt gặp nụ cười ấy, tôi cảm giác người hàng xóm của mình lúc này thật dễ gần.

Anh làm bảo vệ cho trung tâm dịch vụ miền núi của tỉnh, một lần tình cờ tôi biết thế. 7 giờ sáng mỗi ngày, anh có mặt tại căn phòng nhỏ sát cổng ra vào cơ quan. Ở đó, anh mở sổ ghi chép, đóng mở cổng, kiểm tra  xe ra vào cơ quan trong ngày. Dĩ nhiên làm việc ấy, anh không tránh khỏi va chạm, không tránh khỏi việc đóng barrie ngăn chiếc xe nào đó không tuân theo quy định, hoặc yêu cầu mấy tay lái xe trẻ thôi ý muốn vào nhanh, ra nhanh hơn mọi người. Có lần tôi chứng kiến anh vừa đóng barrie, vừa dứt khoát bảo tay lái xe tuổi ngoài hai mươi, hai cánh tay xăm rồng rắn không được cho xe dấn tới mà phải nhường một xe khác đã chờ trước cổng hai mươi phút hơn. Ban đầu tay lái xe trẻ không chịu lùi ngay. Gã hạ thấp  cửa xe.  Hai cánh tay khuỳnh lên cửa  như muốn anh thấy những hình xăm trên cánh tay, song trước vẻ bình thản của anh, một lúc sau, gã lắc đầu bảo “bố khó tính bỏ mẹ”, rồi lùi xe theo yêu cầu. Một con người thường rõ ràng, dứt khoát, lắm khi to tiếng ấy khi về đến nhà lại chẳng khi nào nói to, để tôi, một người người ở sát vách có thể thấy, ít ra là một vài lần. Vợ anh, một phụ nữ ngoài ba mươi, da hơi xanh, khuôn mặt thanh, đôi mắt to hay nhìn xuống, lúc nào cũng được anh  nhẹ nhàng trong đối xử, ngay cả khi vì lý do nào đó chị tỏ ra bực bỏ. Trước sau tôi một mực thấy anh chiều vợ, không muốn vợ động đậy chân tay ngay cả những việc nhỏ như quét cái sân gạch trước nhà, nơi có bể nước nhỏ và mỗi lần rửa gì đấy chị thường đổ nước lênh láng cả sân. Có thể nói, vợ chồng anh ít nhiều gây cho tôi  suy nghĩ là họ sống có phần khác biệt, rất gần khi anh đi làm, gặp tôi ở đầu cổng và không quên gật đầu chào, nhưng lại rất xa cách hàng xóm khi về đến nhà. Chỉ gần đây, tôi mới hiểu thêm  vợ chồng anh, nhân khi xảy ra  chuyện điện cúp đột ngột.

Đêm đó tại khu phố tôi ở, nhiều ngôi nhà đều sử dụng đèn sạc các loại để bù sáng, riêng nhà anh  vẫn  tối thui. Nhớ mình còn chiếc đèn sạc chưa dùng,  tôi đứng bên rào gọi anh. Gọi đến lần thứ ba, anh bước ra có phần nhợt nhạt, mặt sau của chiếc áo thun chường ra phía trước. “Khả năng cúp đến khuya, anh cầm chiếc đèn này đi”, tôi nói và đưa chiếc đèn về phía anh. Người hàng xóm ngẩn ra một lúc, đáp: “Anh để dùng đi?”. Tôi giải thích, anh mới nhận cây đèn. Sáng hôm sau, vừa mở cửa, tôi trông thấy trên thềm nhà có lá thư  được đè bởi hòn gạch nhỏ, cạnh đó là cây đèn.“Đêm qua bệnh tim của vợ tôi trở nặng. Không có cái đèn của anh chắc tôi mò hoài không ra thuốc. Sáng nay tôi đi làm sớm. Xin gởi lại  cái đèn và cảm ơn anh vì nhà tôi ngoài bệnh tim còn bệnh khớp không đi lại được lâu...”. Đọc thư anh, tôi không khỏi dấy lên lòng thương cảm, ít ra là tôi biết anh có người vợ bệnh tật, vì thương vợ, anh sẵn sàng chịu đựng ngay cả khi chị càu nhàu.

Trong lúc trò chuyện, tôi  bảo cả tuần  không thấy anh ở nhà mà lại thấy cô gái trẻ  chừng hai mươi tuổi ra vô quét dọn. “Tôi sang Campuchia đột xuất, phải nhờ đứa cháu gọi vợ tôi là dì ruột ở quê lên giúp”- anh chậm rãi. Sư đoàn cũ của anh mới đây mời qua lại ngã ba biên giới nhằm xác định nơi chôn cất những đồng đội hy sinh khi chiến đấu với quân Pôn Pốt trước đây nhưng đến nay vì nhiều lý do đơn vị chưa đưa về Việt Nam được. Anh không lưỡng lự khi ra đi. Cố gắng xong nhiệm vụ trong vòng một tuần. Anh tiếp tục câu chuyện: “Nhìn ảnh của chị, tôi nghĩ người đi làm xa cũng có cái  hay.  Đó là khoảng cách cần thiết để nuôi dưỡng hạnh phúc. Gần nhau quá, nhiều khi phải chịu đựng nhau”. Đến lúc này tôi đoán anh có điều gì đó không  vui trong lòng và tôi đã vô tình  khơi lên. Có lẽ từ chuyện cô cháu chăng? Nỗi buồn khi giấu trong lòng, vào những lúc năm cùng tháng tận như thế này dễ dâng lên thành nỗi sầu chất ngất. Vì vậy, dù buổi chiều đang trôi  thật nhanh, khoảng mười mấy tiếng nữa năm mới sẽ đến và đường về nhà tôi  ở  thị xã La Gi đến non một trăm cây số, song tôi lại muốn trò chuyện với anh lúc này, một cuộc trò chuyện vào chiều ba mươi tết có thể giúp anh khuây khỏa? Trái tim tôi  mách bảo thế. Tôi xòe bàn tay về phía anh, thân tình: “Lâu rồi  mình chưa trò chuyện với nhau. Anh uống nước đi… Năm nay anh có trực tết?”. Anh Hai không trả lời câu tôi hỏi mà nói: “Tôi đang nói với anh về chuyện đứa cháu gái. Nó vừa ra xe về quê lúc nãy, nguyên nhân từ vợ chồng tôi, cũng như vì mấy câu chuyện liên quan”. Nói xong anh thở dài.

* * *

“Làng tôi nằm cạnh sông Vu Gia của Đại Lộc, một huyện thuộc Quảng Nam. Hồi trước giải phóng, người ta đặt rất nhiều máy bơm ven sông, bơm nước lên ruộng và cha tôi là người coi máy uy tín trong  làng” - anh kể.

Buổi chiều nọ, chiếc xe zeep sơn màu xanh, chở theo mấy người đàn ông mặc sắc phục trắng xanh của cảnh sát chạy đến, đổ xịch trước cửa nhà. Khi đó cha anh vừa ở ngoài sông về. Ba cảnh sát hùng hổ xông đến, yêu cầu ông lên xe rồi sẽ giải thích sau. Tối đó ông không về. Hai ngày sau cũng mất biệt. Mẹ anh sấp ngửa, chạy vạy, hỏi han tin tức chồng thì ông về bằng xe đạp, do một người quen chở. Trán và môi trên ông sưng vều, hai chiếc răng cửa bị gãy. Quần áo ông nhàu  nát, lấm đất, có chỗ dính vết máu. Mẹ anh lấy muối đắp lên trán chồng. Họ nói gì với nhau, không để anh biết. Được hai bữa ở nhà, sang bữa thứ ba, cha anh lại ra sông. Cuối năm đó, ông nói với mẹ, chủ máy thưởng cho số tiền vì luôn coi nước bảo đảm. Sau khi nói chuyện, ông dắt chiếc xe đạp cũ ra sân, buộc mẹ ngồi lên, chở đi. Nửa tiếng sau họ về. Mẹ anh nói khi xuống xe “thiệt phí tiền”. Cha chỉ cười.

Rồi cảnh sát lại ập vào nhà. Lần này chúng đến vào lúc sáng sớm, hè nhau xô đổ thùng thóc rồi  lấy từ đáy thùng ra hai lá cờ  nửa xanh, nửa đỏ của Mặt trận giải phóng miền Nam. Trông thấy cờ , mẹ anh quay lưng bước nhanh xuống bếp, ở đó có cánh cửa lá, mở cánh cửa là con đường đất nhỏ dẫn ra sông. Hai tên cảnh sát xông đến giữ chặt tay mẹ. Những tên còn lại, súng cầm tay, đạp cánh cửa lá, chạy đi. Lát sau, từ bờ sông chúng quay về chửi đéo má, đéo mẹ, buộc mẹ anh theo chúng về  Chi cục cảnh sát. Nhiều năm sau này, người làng kể: Khi đó, người đàn ông phụ trách máy bơm đang đi thẳng vào núi. Một người trong làng bí mật báo tin khẩn cho ông, yêu cầu không được quay về.                  

Sau ngày chồng vào núi, người vợ  gần ba mươi tuổi vẫn làm nghề  hàng xáo. Khi đó, anh  mười tuổi, chưa giúp mẹ được nhiều, nhưng  là chỗ trò chuyện của mẹ. Một đêm, mẹ  mở rương lấy ra chiếc áo dài màu xanh đượm mùi long não đưa con xem, chậm rãi: “Cha con  buộc mẹ may để hàng xóm, láng giềng mời đám cưới, đám giỗ có cái mà mặc”. Anh cầm lấy chiếc áo của mẹ, chà bàn tay vào lớp vải, úp lên mặt, cảm nhận được sự mát lạnh từ vải toát ra. Tết năm đó lại đến. Trước tết chục ngày, mẹ thức đêm làm hàng xáo và sáng ra gánh đi từ sớm. Khi còn hai ngày nữa sang năm mới, thay vì tối mịt mẹ mới về thì mẹ quay về lúc ban sáng. Thảy chiếc đòn gánh xuống đất, mẹ liêu xiêu bước vào  buồng rồi đóng chặt cửa lại. Đến tối mẹ  than nhức đầu. Anh tìm chai dầu đưa mẹ thì thấy mắt mẹ sưng húp, chiếc áo dài màu xanh trứng sáo được giữ trước ngực, nhưng ướt đầm một góc. Năm đó hai mẹ con không ăn tết. Vừa hết tết, mẹ lại quảy gánh lên vai. Thế nhưng chỉ một thời gian sau thì mẹ không còn đi buôn đi bán thường xuyên. Những khi ai đó nhắn lấy gạo, lấy tấm, mẹ cất gánh lên vai nhưng chỉ nửa buổi thì về, da dẻ bợt bạt, trán rịn đầy mồi hôi, cũng như có lúc nén một, hai cơn đau ở bụng.  Đúng năm đó, cách mạng về đánh đồn núi Lỡ, thắng to. Sau trận thắng ấy, bọn lính và cảnh sát không dám ra khỏi đồn, nhưng không ngày nào chúng không  pháo kích khu vực làng của anh. Mỗi lần nghe đạn pháo, mẹ đều thở dài. Một buổi tối mẹ bảo: Vài hôm nữa theo mẹ về quê ngoại bên kia sông Vu Gia chơi vài hôm. Cũng trong cái tối đó, mẹ lấy chiếc áo dài xanh trứng sáo, trải ra trên chiếu, ngồi nhìn thẫn thờ, trước khi  bảo anh đi ngủ sớm.

Anh Hai dừng kể. Đôi mắt của người hàng xóm như có sương, những nét  cương nghị trên mặt tuồng như biến đi. Anh bảo vào buổi sáng khi về bên quê ngoại, họ đến thăm nhà một người bạn của mẹ rồi ở lại đó. Được một ngày, mẹ nói phải về làng lấy thuốc rồi lại qua. Lúc đò còn cách bờ một hai cây sào thì mẹ ngồi thụp xuống, chùi một cái vết gì đó dính trên mặt con, dúi mặt vào ngực  con  hít hà, rồi ôm chặt lấy con. Người bạn cùng theo mẹ ra bến, nhắc mẹ lên đò. Mẹ đặt gói giấy nhỏ vào tay anh, dặn giữ gìn cẩn thận, trước khi bậm môi quay đi. Sau hôm ấy chiều nào, anh cũng ra bến đò, nhìn sang bên kia sông.

Lần thứ năm gì đó, anh chuẩn bị  ra sông thì bạn của mẹ ôm chầm lấy anh, nước mắt lã chã: “Hai ở đây với đoàn thể nghe. Chị Sương - tên của mẹ - gởi Hai cho đoàn thể. Hai ở với đoàn thể để không đi ngược con đường của cha, rồi có điều kiện thì trả thù cho cha”. Đến khi đó anh  mới biết cha mình hy sinh, nhưng  là một sự biết mù mờ, cũng như không hiểu sao mẹ không ở bên mình? Nhiều năm sau đó anh  sống  trong một ngôi làng sâu trong núi, lúc quê ngoại anh trở thành nơi địch tự do bắn phá. Những năm sống trong ngôi làng sát núi, anh đều giữ gìn gói giấy báo của mẹ. Trong gói giấy có một chiếc áo được may tay, bằng thứ vải  màu xanh rất mịn, với những bông sứ nổi lên trên mình vải. Đó là loại vải như nhiều người nói rất tốt và bền. Cũng lúc này, anh mới biết vì sao có chiếc áo. Nó được cắt ra từ vải chiếc áo dài cha anh may cho mẹ. Trong cái đêm bảo anh vài hôm nữa về quê ngoại, mẹ chong đèn trắng đêm, lần nào thức giấc nhìn ra cũng thấy lưng mẹ quay về phía anh, hai tay liên tục cử động. Đó là lúc mẹ dồn tình thương vào đường cắt, đường may nên dầu không đo,  áo vẫn không thùng thình với anh. Tuần đầu tiên sau ngày giải phóng đất nước, trong cảnh bao người đoàn viên, anh mặc chiếc áo xanh trở về quê cũ. Trước khi về đến quê, anh đi qua mấy con phố, nơi những ngày bán hàng xáo mẹ hay đi lại, đầu nghĩ ở một đoạn đường nào đó, mẹ đang bán hàng. Thấy chiếc áo màu xanh trứng sáo có  bông sứ nổi lên trên bề mặt vải, mẹ sẽ nhận ra con, sẽ ôm con mừng mừng tủi tủi. Thế nhưng chuyện ấy không bao giờ xảy ra, bởi khi về đến quê, anh  biết nhiều hơn về cha mẹ. Cha anh hy sinh sau ngày vào núi một thời gian. Còn mẹ anh, một phần vì nỗi đau mất chồng, một phần  vất vả mưu sinh, trước ngày đưa anh sang sông  bà bị  một chứng  bệnh nan y. Mẹ sợ không bảo bọc được con nên  gởi anh cho đoàn thể, còn mình quay về nhà cũ, không lâu sau thì mất. Chiếc áo xanh trứng sáo trở thành vật kỷ niệm của cha và mẹ anh. Anh giữ chiếc áo ấy như một báu vật, cho đến khi mất chiếc ba lô khi sa vào trận địa pháo tại chiến trường KPC năm 1979.

Người hàng xóm làm tôi buồn theo anh, theo câu chuyện nổi trôi của anh, kể cả chuyện mới đây anh đến ngã ba biên giới: Việt Nam - Lào- Campuchia thì cảnh vật quá nhiều thay đổi. Năm 1979, ngã ba biên giới, bốn bề rừng rú, nay là thị tứ sầm uất. Còn hai giờ nữa  mới lên xe về nước, mọi người đổ xô đi mua hàng kỷ niệm.  Hai không có ý định mua. Anh muốn dành 2 triệu đồng sư đoàn hỗ trợ  mua cho vợ lọ thuốc bổ tim loại tốt, bình thuốc chống thấp khớp. Anh chậm rãi đi dọc theo lối đi chính trong chợ, xem hàng quán. Đến gần cuối chợ,  định bụng quay lại  thì chân anh như chôn tại chỗ. Trời ơi, tôi có lầm không? Loại vải màu xanh trứng sáo bấy lâu anh  lùng tìm! Anh bước hẳn vào trong quầy, sờ tay vào những bông sứ nổi lên trên mình vải để cảm nhận bằng da thịt. Từ lúc đó, mắt anh không rời lấy xấp vải. “Bao nhiêu?”, Hai hỏi người bán hàng. “Một triệu tiền Việt, nhưng có người Thái đặt cọc rồi”. Người bán hàng nói, rồi  cầm  xấp  vải móc lên chiếc móc  gỗ phía trong cùng.  Hai chầm chậm đưa tay lên túi ngực. Hai triệu  đồng cồm cộm sau lớp vải áo. Nó là thứ vải anh nhiều lần tìm kiếm tại chợ Bến Thành! Nhiều người nói đó là thứ vải đã lâu không còn sản xuất. Sẽ không có lần sau để gặp lại nó. “Rồi anh có mua không?”, tôi  buột miệng hỏi. Hai trầm ngâm: “Họ không bán cho đến khi tôi trả gấp đôi giá, mất đứt số tiền trong túi”. 

Mất một ngày rưỡi đi đường, anh mới về đến nhà. Vừa bước chân vào cửa, anh đã trông thấy vợ đang ngồi trên giường, một tay đang bóp ống chân, mắt có phần nhắm lại. Cô ấy đang đau! Người chồng  ngồi xuống bên cạnh, vừa bóp chân cho vợ, vừa nghĩ đến việc kể với vợ về xấp vải, biết đâu  cô ấy sẽ vui lên và giảm đau. Cô cháu gái nghe dượng nói vừa mua được xấp vải cũng muốn xem. Anh chiều ý thích  cháu. Đứa cháu gái giống như anh, chà tay vào những bông sứ, rồi đặt nó dưới da xem có hợp? Cô cháu hỏi giá. Anh nói. Đang nhắm, mắt vợ anh liền mở choàng, tay thôi bóp ống chân, hết nhìn tấm vải rồi lại nhìn anh. Sau đó chị không buồn nhìn vào tấm vải. Chị nói với cô cháu gái: “Nếu biết có người phung phí thì tuần rồi, đau ốm liên tục, dì đã không ngần ngại dùng đến tiền tích lũy. Vô lo cũng vừa vừa”. Đến lượt anh nhìn vợ. Rồi anh giải thích. Anh  bảo trước khi đi anh đã để tiền cho chị mua thuốc dưới gối. Chị bảo không thấy. Đến lúc này thì anh nói, anh không hề thiếu trách nhiệm với vợ. Chị quay lưng vào vách, nói với cô cháu là không cần lo bữa tối. Cứ thế, vợ  chồng nói qua nói về. Đứa cháu gái ban đầu còn yên lặng lắng nghe, nhưng khi  nghe dì mình nhắc  lần thứ hai là không thấy tiền dưới gối thì ôm mặt khóc. “Dứt khoát  con nhỏ  nghĩ tôi nghi nó lấy… nhưng tôi thì không vậy. Tôi biết tính vợ tôi, những lúc cơn đau hành hạ hoặc khó thở vì ngợp tim, đồ vật để đâu cô ấy không hề nhớ ”, anh ưu tư, nói.                      

Ly nước lại xoay xoay trong lòng bàn tay. Một khoảng yên lặng trôi qua giữa hai chúng tôi.  Tôi quyết định phá sự yên lặng ấy, hỏi: “Chị ấy còn mẹ chứ?”. “Không. Chúng tôi gặp nhau trong hoàn cảnh cả hai đều không còn người thân yêu nhất”.   “Anh từng kể  với vợ về chiếc áo màu xanh trứng sáo?”. “Lần nào cô cũng bảo cố gắng tìm. Lần này do tiền mua vải cao quá,  nên cô ấy nóng ruột. Và đây cũng là lần đầu tiên tôi có những lời nặng nề với cô ấy” - anh nói.

Không hiểu sao khi nghe anh nói, tôi tin câu chuyện sẽ không  có diễn biến  xấu vì lần nào từ bên nhà nhìn sang, tôi đều thấy người phụ nữ của anh có đức tính nhẫn nhục, biểu hiện ở đôi mắt to đen hay nhìn xuống và giọng nói lúc nào cũng vừa phải ngay cả khi buồn bực. Người như thế không chỉ  biết  mỗi mình. Tôi nhìn anh, động viên: “Tôi tin chị  ấy nghĩ lại”. Người hàng xóm vẫn giữ nụ cười: “Thì anh em tâm sự với nhau… vậy mà”. Đúng lúc đó, ngoài đường chính vang lên  tiếng  còi xe. Không nhìn ra, tôi vẫn biết là xe đến đón. Anh đề nghị xách giùm tôi chiếc va ly to, còn tôi lo đóng cửa để xe khỏi chờ lâu. Lúc cho chìa khóa vào ổ, theo thói quen tôi nhìn sang, bất ngờ trông thấy vợ  anh đang  múc nước trong chiếc bể nhỏ  ở giữa sân, đổ vào chiếc thau nhôm. Và khi người hàng xóm  bắt tay tôi, bên kia sân, vợ anh giơ hai cánh tay gầy ra, rướn người phơi   cái tấm vải màu xanh lên  dây phơi trước mặt. Ngỡ ngàng, tôi  bấm mạnh  ngón tay cái vào lòng bàn tay anh, nói khẽ: “Nhìn kìa… Chị đang giặt tấm vải anh mua về. Hòa bình... rồi nhé!?”. Người hàng xóm nhìn sửng vợ rồi nhìn tôi. Anh đang tự hỏi vì sao tôi đoán đúng? Nom anh lúc này thật hạnh phúc!

Truyện ngắn: HÀ THANH TÚ

CÁC TIN BÀI KHÁC
Xem thêm >>
Xem tin theo ngày
Thông tin cần biết
Trao tiền bạn đọc hỗ trợ chị Phương

BT- Báo Bình Thuận vừa trao số tiền 3.500.000 đồng của bạn đọc (Khách sạn Bình Minh 2.000.000 đồng; chị Nguyễn Ngọc Như Ý, phường Phú Trinh, Phan Thiết 1.000.000 đồng và gia chủ số nhà 95 Trần Phú, Phan Thiết 500.000 đồng) hỗ trợ cho ba mẹ con chị Nguyễn Thị Bé Phương, ở thôn Hòn Mốc, xã Sông Bình (Bắc Bình) có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chị Phương đang mắc căn bệnh hiểm nghèo.

Xem chi tiết
“Kênh rác” bốc mùi nồng nặc trong khu dân cư

BTO- Những ngày qua, thời tiết nắng nóng, oi bức, cũng đồng nghĩa với “kênh rác” tại cửa biển thuộc thôn Hà Thủy 1, xã Chí Công, huyện Tuy Phong bốc mùi hôi thối hơn bao giờ hết. Mặc dù tình trạng này đã được Báo Bình Thuận phản ánh khá lâu nhưng đến nay hiện trạng vẫn như cũ, thậm chí rác ngày càng nhiều và bốc mùi hôi thối hơn trước.

Xem chi tiết
 Muốn xin lại hồ sơ bệnh án cần thủ tục gì?

 BTO- Trong tháng 4/2018, tôi có đưa vợ đi Hà Nội do bệnh đột ngột vào nhập viện Bạch Mai, Hà Nội. Đến ngày 16/4/2018 vợ tôi chết tại Bệnh viện: KHOA HS C1 - VIỆN TIM MẠCH - BV BẠCH MAI; có giấy báo tử của Bệnh viện. Tôi muốn xin lại hồ sơ bệnh án để làm thủ tục bảo hiểm nhưng không có điều kiện đi Hà Nội. Tôi muốn ủy quyền cho người bạn đến nhận có được không? Thủ tục như thế nào? Kính mong Quý luật sư tư vấn. Xin chân thành cám ơn.

Xem chi tiết
Ông Em đã nộp đủ số tiền thu nợ cho công ty

BT- Một số cử tri xã Măng Tố, Tánh Linh phản ánh: Ông Lê Đức Em, cán bộ xã Măng Tố đã thu tiền nợ dự án dâu tằm tơ của các hộ dân từ nhiều năm trước, nhưng đến nay mới đưa phiếu thu là không đúng quy định của pháp luật. Các ngành chức năng huyện cần xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng tiền của nhân dân đối với ông Em.

Xem chi tiết
Ngã ba Hòa Thắng: Điểm đen tai nạn giao thông

BT- Ngã ba Hòa Thắng nằm trên tỉnh lộ 715 xã Hòa Thắng (huyện Bắc Bình). Đây là tuyến đường dẫn đến các điểm du lịch nổi tiếng như Bàu Trắng, Mũi Yến và các điểm du lịch lân cận.

Xem chi tiết
Xã Phong Nẫm (Phan Thiết): Gần 50 hộ dân chưa có điện lưới sử dụng

BT- Nằm cách tuyến đường dẫn từ xã Phong Nẫm (Phan Thiết) đi xã Hàm Hiệp (Hàm Thuận Bắc) chưa đến 1km, nhưng nhiều năm qua gần 20 hộ dân ở khu Bờ Kênh đôi thuộc tổ 9, thôn Xuân Phú, xã Phong Nẫm vẫn chưa được sử dụng điện nhà nước.

Xem chi tiết
Hỗ trợ trực tuyếnHotline: 0918680377 - 0623604533