Kỷ niệm 40 năm giải phóng Bình Thuận Cập nhật lúc 08:03:25 06/04/2015  (Lượt xem:  7534 )
Thành tựu 40 năm xây dựng và phá

Thành tựu 40 năm xây dựng và phát triển Bình Thuận

BTO- Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Bình Thuận (19/4/1975 – 19/4/2015), BTO xin giới thiệu đến bạn đọc các thành tựu sau 40 năm xây dựng và phát triển (1975 – 2015) của Đảng bộ và nhân dân Bình Thuận.

Qua 40 năm, nhất là từ khi tái lập tỉnh (1992) đến nay, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân ra sức xây dựng và phát triển tỉnh nhà đạt được nhiều thành tích quan trọng. Trong đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11,6% (nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 7%; nhóm công nghiệp, xây dựng tăng 17,7%; nhóm dịch vụ tăng 13,7%). Riêng giai đoạn 2005 – 2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10,9%/năm. GRDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 1.656 USD (tăng 12,7 lần so năm 1991). Tích lũy từ nội bộ nền kinh tế từ 9,5% (năm 1991) tăng lên 20% (năm 2014). Vốn đầu tư phát triển bình quân hàng năm tăng 18.8%.

Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nổi bật trên các lĩnh vực.

Sản xuất nông lâm thủy sản

40 năm qua, nhất là trong 10 năm trở lại đây cơ cấu cây trồng chuyển dịch khá tích cực. Diện tích cây lâu năm tăng dần. Năm 2015 cơ cấu cây hàng năm chiếm tỷ trọng 75% cây lâu năm 25% thì đến năm 2014 diện tích cây hàng năm còn 67%, cây lâu năm 33%. Trong đó, cây thanh long, cao su tăng khá nhanh. Đến cuối năm 2014, diện tích cây thanh long có 23.200 ha (năm 2005: 5.799ha); cây cao su 42.800 ha (2005: 12.515 ha). Sản lượng mủ cao su từ 6.518 tấn (năm 2005) tăng lên 38.900 tấn (2014); thanh long từ 96.806 tấn (2005) tăng lên 430.120 tấn (2014). Sản lượng lương thực không ngừng tăng lên; năm 2014 đạt 778 ngàn tấn (tăng 1,8 lần so với năm 2005). Chất lượng sản phẩm luôn được nâng lên đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Tỉnh đã nỗ lực đầu tư nhiều công trình thủy lợi lớn như: hồ Sông Quao, hồ Cà Giây, hồ Đu Đủ, hồ Tà Pao… và nâng cấp nhiều công trình thủy lợi khác nên đã nâng diện tích chủ động nước, tạo điều kiện thâm canh tăng vụ, nâng cao hiệu quả cây trồng. Hệ thống thủy lợi đã được kết nối các vùng sản xuất, đưa diện tích gieo trồng được tưới từ 53,4% ngàn ha (năm 2005) lên 112 ngàn ha (năm 2014). Đồng thời, tỉnh có cơ chế, chính sách thông thoáng nên đã kích thích nông dân đầu tư thâm canh, tăng vụ. Các thành phần kinh tế, nhất là các hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư sản xuất, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế đất đai; cơ cấu cây trồng cũng chuyển đổi từng bước theo hướng sản xuất hàng hóa.

Chăn nuôi phát triển theo hướng chú trọng chất lượng, hiệu quả. Công tác tiêm phòng bệnh cho gia súc, gia cầm được chú trọng, bệnh dịch được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Tại thời điểm ngày 1/10/2014, tổng lượng đàn gia súc giảm, như đàn bò có 164 ngàn con (năm 2005: 177 ngàn con); đàn heo có 265 ngàn con (2005: 268 ngàn con), riêng đàn gia cầm tăng 3,2 triệu con (2005: 2,6 triệu con); sản lượng thịt xuất chuồng năm 2014 tăng lên 33,2 ngàn tấn (năm 2005: 31,5 ngàn tấn).

Diện tích rừng trồng mới, trồng cây phân tán, chăm sóc rừng trồng hàng năm đều đạt kế hoạch đề ra. Độ che phủ nâng dần, đến năm 2014 đạt 50,5%. Chương trình trồng rừng chuyển dần theo hướng xã hội hóa, nguồn vốn đầu tư từ tổ chức kinh tế, hộ gia đình tăng lên. Công tác quản lý bảo vệ rừng được tăng cường; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, xây dựng quy ước và cam kết bảo vệ, phát triển rừng được chú trọng nên đã nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong nhân dân.

Kinh tế thủy sản, cả khai thác và nuôi trồng gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu ngày càng phát triển. Sản lượng hải sản khai thác năm 2014 đạt 189 ngàn tấn (năm 2005: 147 ngàn tấn). Lượng tàu thuyền công suất lớn tăng nhanh, đến năm 2014 toàn tỉnh có 7.477 chiếc (trong đó có 2.320 chiếc trên 90CV), bình quân 108 CV/chiếc (năm 2005 : bình quân 47,8CV/chiếc). Các tàu thuyền đóng mới từ chương trình khai thác xa bờ đã phát huy tốt; nghề vây rút chì hoạt động đạt hiệu quả khá và đang chuyển hướng đánh bắt xa bờ. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, với hình thức đa dạng, theo quy mô hộ gia đình, như nuôi tôm sú, cá bống tượng, rô phi đơn tính, cá lốc, cá tra, cá mú… Nuôi tôm giống phát triển khá nhanh, mang lại nhiều kết quả khả quan. Toàn tỉnh hiện có trên 150 cơ sở nuôi tôm giống; sản lượng năm 2014 đạt 25 tỷ post.

Sản xuất công nghiệp

sản xuất công nghiệp chuyển biến tích cực, hướng dần vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, gắn với xuất hàng xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu xây dựng. Các nhà máy thủy điện, phong điện, nhiệt điện được đầu tư và đi vào hoạt động tạo điều kiện để sản xuất công nghiệp trong 10 năm qua đạt khá (bình quân 13,5%/năm). Các sản phẩm sản xuất đều tăng. So năm 2005, đá xây dựng năm 2014 tăng 3,8 lần; muối hạt tăng 1,3 lần; thủy sản đông lạnh tăng 2,6 lần; nước mắm tăng 1,7 lần, đường tăng 2 lần; hạt điều nhân tăng 2,9 lần, gạch nung tăng 2,2 lần; nước khoáng tăng 3,1 lần; nước máy tăng 2,9 lần; sản phẩm may mặc tăng 4,7 lần; điện phát ra tăng 2,4 lần… Sự gia tăng các sản phẩm công nghiệp là kết quả của đầu tư chiều rộng và chiều sâu bằng nhiều nguồn vốn, trong đó đã phát huy được tiềm lực của các thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp. Các DNNN sau khi cổ phần hóa đã nâng cao hiệu quả hoạt động. Khu công nghiệp được đầu tư xây dựng và thu hút khá nhiều nhà đầu tư. Trong đó, KCN Phan Thiết giai đoạn 1 đã hoàn tất xây dựng kết cấu hạ tầng, lấp đầy 100% diện tích cho thuê đất; các KCN khác như KCN Phan Thiết giai đoạn 2, KCN Hàm Kiệm 1, KCN Hàm Kiệm 2, KCN Sông Bình đã cơ bản hoàn thành xây dựng kết cấu hạ tầng và lấp đầy từ 20 – 40% diện tích.

Các dự án sản xuất điện được triển khai tích cực, đến cuối năm 2014 đã hoàn thành đưa vào vận hành 20 trụ phong điện (30MW) ở Bình Thạnh (Tuy Phong), 3 trụ phong điện ở huyện Phú Quý; phát điện tổ máy số 1 (622MW) nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2; khởi công xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4; hoàn thành nâng công suất các trạm biến áp 110/22KV: Lương Sơn, Phan Rí, Thuận Nam, Hàm Kiệm; thi công hoàn thành dự án nâng cao hiệu quả năng lượng khu vực nông thôn tỉnh gồm: đường dây trung áp: xây mới 42,768 km, cải tạo 132,37 km; đường dây hạ áp: xây mới 77,121km, cải tạo 33,174km; trạm biến áp: xây mới 56 trạm/3.090 KVA.

Thương nghiệp, xuất nhập khẩu và phát triển du lịch

Lưu thông hàng hóa giữa các vùng, các địa phương thuận lợi. Mạng lưới thương mại được mở rộng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, quy mô và hình thức hoạt động đa dang. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng bình quân 16,8%/năm. Toàn tỉnh hiện có trên 80 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hóa với hơn 50 thị trường trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong giai đoạn 2005 – 2014 tăng bình quân 12,5%/năm, trong đó hàng thủy sản tăng 9,1%/năm; hàng may mặc tăng 28,7%; xuất khẩu dịch vụ du lịch năm 2014 đạt 123 triệu USD (bình quân tăng 26,5%/năm). Một số thị trường có mức tăng kim ngạch hàng năm trên 20% là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Bỉ, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ. Thị trường xuất khẩu hàng hải sản giữ ổn định ở 30 quốc giá và vùng lãnh thổ. Mặt hàng thanh long, ngoài thị trường Trung Quốc đã có thêm thị trường mới như: Đức, Hà Lan, UAE, Malaysia, Singapo, Thái Lan, Mỹ…

Hoạt động du lịch phát triển nhanh, toàn tỉnh hiện có 271 cơ sở lưu trú phục vụ khách du lịch với tổng số 10.314 phòng; đã xếp hạng 169 cơ sở lưu trú với 6.815 phòng (5 sao: 03 cơ sở với 348 phòng; 4 sao: 22 cơ sở với 2.214 phòng; 3 sao: 12 cơ sở với 891 phòng; 2 sao: 33 cơ sở với 1.375 phòng; 1 sao: 30 cơ sở với 772 phòng; nhà nghỉ du lịch: 51 cơ sở với 973 phòng; nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê: 18 cơ sở với 242 phòng). Doanh thu từ hoạt động du lịch trong 10 năm qua tăng bình quân 30%/năm (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng 18%). Lượng khách đến tham quan, nghỉ dưỡng từ năm 2005 đến nay tăng bình quân 13,1%/năm. Tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành du lịch chiếm trong GRDP của tỉnh từ 3,9% (năm 2005) đã tăng lên 6,0% (năm 2014).

Kết cấu hạ tầng giao thông được xây dựng đến tận các vùng, miền, cả các xã miền núi, đáp ứng khá tốt nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương. Các tuyến đường kết nối giữa các huyện đều được nhựa hóa. Các tuyến giao thông quan trọng phục vụ phát triển kinh tế của tỉnh như: Quốc lộ 28; Quốc lộ 55; đường Hàm Minh - Thuận Quý; đường Phan Thiết – Kê Gà – La Gi; Phan Thiết – Mũi Né – Hòa Thắng; Sông Mao – Phan Sơn; Chí Công – Bình Thạnh; đường 707 – Hàm Cần - Mỹ Thạnh, đường Phú Hội - Cẩm Hàng – Sông Mao; Đường ĐT 712 - thị trấn Đức Tài; đường giao thông trên đảo Phú Quý; đường Hòn Lan – Kê Gà; các tuyến Lạc Tánh - Đức Phú, cảng Phan Thiết, cảng Phú Quý… đã được đầu tư làm mới và nâng cấp, hình thành nên mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh trên địa bàn tỉnh và kết nối các tỉnh trong khu vực. Hoạt động vận tải phát triển nhanh, trong đó vận tải xe buýt và vận tải đường sắt Phan Thiết – TP Hồ Chí Minh đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của nhân dân và khách du lịch. Vận tải đường biển tuyến Phan Thiết – Phú Quý duy trì hoạt động ổn định. Khối lượng luân chuyển hàng hóa tăng bình quân 10%/năm; luân chuyển hành khách tăng bình quân 8,8%/năm.

Mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển rộng khắp. Đến cuối năm 2014 thuê bao điện thoại cố định đạt 7,4 thuê bao/100 dân; thuê bao di động 129 thuê bao/100 dân; thuê báo internet đạt 4,7 thuê bao/100 dân.

Tài chính và Ngân hàng

Thu thuế, phí, lệ phí hàng năm đều tăng đã góp phần thu ngân sách của tỉnh năm sau cao hơn năm trước. Trong 10 năm gần đây, thu nội địa tăng bình quân 16,7%/năm; thu thuế, phí tăng 18,7%/năm. Tỷ lệ thu nội địa so với GRDP hàng năm đạt từ 10 – 12%, chi ngân sách địa phương bình quân tăng 15,9%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 16%, chiếm trên 30% trong chi ngân sách địa phương. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung cho những công trình then chốt, bức xúc, trong đó có các công trình đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ sự nghiệp giáo dục, y tế, các công trình đầu tư kết cấu hạ tầng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các công trình phục vụ những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh.

Các vấn đề xã hội

Việc chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội luôn được quan tâm. Phong trào xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh, nên số hộ nghèo đói chiếm 32,4% (năm 1993), nay chỉ còn 3,33% (năm 2015) và cơ bản hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát đối với các hộ nghèo. Phong trào đền ơn đáp nghĩa tiếp tục phát triển sâu rộng. Hàng năm vận động xây dựng Quỹ đền ơn đáp nghĩa đều vượt kế hoạch và đã giải quyết trợ cấp kịp thời cho các đối tượng chính sách. Trên 95% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí. Hàng năm đã giải quyết việc làm trên 20 ngàn người. Theo kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2013; Thu nhập bình quân/nhân khẩu/tháng đạt 2,35 triệu đồng. Chi tiêu bình quân/nhân khẩu/tháng đạt 1,93 triệu đồng. Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố, bán kiên cố 96,3% (năm 2010: 95,3%). Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí tự hoại, bán tự hoại: 86,9% (năm 2010: 76,2%). Tỷ lệ hộ sử dụng thiết bị có giá trị cao đáp ứng sinh hoạt gia đình ngày càng tăng (hộ có tủ lạnh đạt 72,5% (năm 2010: 53,8%), có máy giặt 27,7% (năm 2010: 16,3%); có xe máy 95,3% (năm 2010: 86,7%), có máy vi tính dùng cho sinh hoạt 20,5% (năm 2010: 14,5%). Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy với các chính sách ưu tiên giải quyết đất sản xuất, cho vay vốn chăn nuôi bò, giao khoán quản lý và bảo vệ rừng, tăng cường công tác khuyến nông, trợ cước trợ giá, hợp đồng cung ứng giống, vật tư, thu mua nông sản, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các chính sách hỗ trợ về giáo dục, chính sách đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số… đến nay đời sống của đa số bà con được nâng cao, bộ mặt xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số khởi sắc hơn so với trước.

Hoạt động giáo dục – đào tạo chuyển biến tích cực; đã thực hiện tốt việc kiên cố hóa trường học, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu dạy và học. Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ được giữ vững, đến nay có 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 100% huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở không ngừng phát triển; trang thiết bị được đầu tư; đội ngũ thầy thuốc được đào tạo, bồi dưỡng… cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Năm 2014, toàn tỉnh có 24 giường bệnh/1 vạn dân (năm 2005: 16,2 giường); 5,56 bác sĩ/1 vạn dân (năm 2005: 5,0 bác sĩ/1 vạn dân); tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ đạt 90%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy sinh dưỡng từ 22% (năm 2005) đã giảm còn 10% (năm 2014); tỷ lệ hộ nông dân sử dụng nước hợp vệ sinh từ 85,7% (năm 2005) đã tăng lên 94% (năm 2014).

Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao hướng về cơ sở, cả các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, phong phú hơn. Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được chú ý đầu tư. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển theo hướng nâng dần chất lượng gắn với thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” góp phần thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể với nhân dân gắn bó hơn. Phong trào thi đua trong các tầng lớp nhân dân được giữ vững.

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường được đẩy mạnh. Số công viên cây xanh đô thị tăng hơn trước. Các đô thị đã quy hoạch, đưa vào sử dụng bãi chôn lấp rác ở vị trí phù hợp, nâng tỷ lệ rác sinh hoạt đô thị được thu gom trong tỉnh đến nay trên 75%. Các cơ sở sản xuất công nghiệp – TTCN thuộc các ngành nghề có khả năng gây ô nhiễm cao như chế biến thủy hải sản, gạch ngói được di dời vào khu quy hoạch tập trung.

Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở của Bình Thuận không ngừng được củng cố, kiện toàn và trưởng thành. Đặc biệt, qua thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW về “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay”, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ngày càng nâng cao về phẩm chất, đạo đức cách mạng, tinh thần, trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật… Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền được nâng lên; công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường, tỷ lệ tham nhũng trên các lĩnh vực như đất đai, tài nguyên, khoáng sản… có giảm, đã làm cho nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể có nhiều cố gắng đổi mới nội dung và hình thức hoạt động theo hướng thiết thực, sát cơ sở hơn, đã góp phần củng cố, mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Không khí dân chủ trong nội bộ Đảng và trong xã hội ngày càng được phát huy, tạo cơ sở rất quan trọng để tiếp tục củng cố sự thống nhất ý chí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, sự ổn định chính trị của tỉnh.

Tóm lại: Mặc dù Bình Thuận là một tỉnh khô hạn, hệ thống hạ tầng yếu kém nhưng 40 năm qua, nhất là từ khi tái lập tỉnh (1992) đến nay, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bình Thuận đã phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng của quê hương, ra sức xây dựng và phát triển tỉnh nhà đạt nhiều thành tựu quan trọng. Nổi rõ nhất là:

1. Đã và đang biến tỉnh nhà từ một tỉnh khô hạn trở thành một tỉnh căn bản và chủ động về nước. Nét sáng tạo ở đây là tỉnh đã có chủ trương “nối mạng thủy lợi”, mặc dù phải vượt qua rất nhiều khó khăn về địa hình, nhưng đã tạo được sự liên thông giữa các hồ và xây dựng hệ thống kênh mương đều khắp các vùng sản xuất. Nhờ vậy, công suất tưới thực tế của các hồ thủy lợi tăng từ 1,5 đến 2 lần công suất thiết kế. Diện tích lúa được tưới chủ động từ 8,4% (năm 1991) lên xấp xỉ 80% (năm 2015) đem lại hiệu quả thiết thực; nước sinh hoạt của thành phố Phan Thiết không còn bị thiếu hụt như trước nữa. Kết quả này đáp ứng niềm khát khao cháy bỏng từ bao đời nay của người dân Bình Thuận.

2. Là tỉnh khô hạn, nắng, gió nhiều, nhiều vùng bị sa mạc hóa. Tỉnh đã từng bước biến những khó khăn, thách thức ấy thành những lợi thế của tỉnh. Như: vùng khô hạn tỉnh chủ trương trồng các loại cây chịu nắng tốt như thanh long, cây trôm, vùng cát phát triển nuôi dông, có nơi trồng thanh long; vùng gió nhiều thì phát triển điện gió; trên biển lợi dụng gió phát triển các môn thể thao trên biển, thu hút du khách, nhất là du khách quốc tế…

Nhờ có thủy lợi và với những hướng đi đúng đắn, phù hợp ấy: tiềm năng về du lịch, công nghiệp, đặc biệt là tiềm năng nông nghiệp được khai thác ngày càng tốt hơn. Kinh tế Bình Thuận liên tục tăng trưởng với tốc độ khá. Các sản phẩm truyền thống như: Nước mắm Phan Thiết, nước suối Vĩnh Hảo tiếp tục giữ vững thương hiệu, gần đây có thêm thanh long, tôm giống, khu du lịch Hòn Rơm- Mũi Né. Thu ngân sách hàng năm đều tăng, từ 140 tỷ đồng (năm 1992) tăng lên 3.800 tỷ đồng (năm 2014). Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu như: thủy lợi, giao thông, trường, trạm, điện, nước sạch, cảng biển… được tập trung đầu tư, nhờ đó bộ mặt đô thị và nông thôn ngày càng thay da đổi thịt rõ rệt. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa không ngững phát triển. Chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho người nghèo luôn được quan tâm. Đến nay, toàn tỉnh đã căn bản hoàn thành mục tiêu xây, sửa nhà ở cho gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo và cận nghèo; tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh chỉ còn 3,3%. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; những vụ việc phức tạp đều được xử lý kịp thời, không để xảy ra điểm nóng.

3. Là một tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tỉnh đã ban hành và triển khai thực hiện có hiệu quả 2 nghị quyết: Nghị quyết về phát triển toàn diện dân sinh – kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và Nghị quyết về đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Với những chính sách thiết thực trên đã làm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyển mình mạnh mẽ. Hệ thống kết cấu hạ tầng đã được đầu tư hoàn chỉnh. Kinh tế phát triển khá vững vàng, chấm dứt được tình trạng du canh du cư; sự nghiệp giáo dục, y tế được quan tâm đẩy mạnh; đời sống bà con ngày càng ổn định, số hộ nghèo giảm từ 32,05% (năm 2005) xuống còn 12,9% (năm 2015). Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng khá căn bản, số lượng, chất lượng nâng lên. Đến nay, 100% cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là người dân tộc thiểu số, hoạt động đạt hiệu quả ngày càng cao hơn.

4. Hệ thống chính trị của tỉnh thường xuyên được củng cố, nội dung và phương thức hoạt động không ngừng được đổi mới, nâng dần hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Trong xây dựng Đảng, đặc biệt là từ khi triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, chuyển biến rõ nhất là ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, ý thức rèn luyện tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng của đại đa số cán bộ, đảng viên được nâng lên; công tác nhận xét, đánh giá cán bộ, phân tích chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên ngày càng đi vào thực chất; phong cách lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên được đổi mới. Trong xây dựng chính quyền, chuyển biến rõ nhất là tỉnh đã nỗ lực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền. Hệ thống Mặt trận và các đoàn thể đã đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng thiết thực, sát cơ sở hơn, đã góp phần củng cố mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

5. Phong trào thi đua yêu nước đã được cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm, liên tục phát động gắn liền với thường xuyên sơ, tổng kết nhân điển hình tiên tiến. Cùng với các phong trào chung như: Đền ơn đáp nghĩa, giảm nghèo, chung sức chung lòng xây dựng nông thôn mới, bảo vệ an ninh Tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, các lực lượng vũ trang cũng đã có nhiều phong trào cụ thể, phù hợp… được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng mang lại hiệu quả tốt, xuất hiện ngày càng nhiều những mô hình hay, kinh nghiệm tốt, những điễn hình tập thể và cá nhân tiên tiến… Nhờ vậy đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân vào quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ trọng tâm của địa phương.

Mặc dù đạt nhiều thành tựu, nhưng nhìn chung nền kinh tế tỉnh ta tăng trưởng chưa thật sự ổn định, chưa tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh thấp; trình trạng thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất chưa được khắc phục do nguồn vốn huy động thấp trong khi nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước khó khăn. Công nghiệp nông thôn phát triển chậm. Thị trường xuất khẩu chưa thật sự ổn định. Sản phẩm du lịch chưa đa dạng. Giải quyết việc làm và đào tạo nghề còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu học tập và lao động của dân. Đời sống một bộ phận nhân dân, đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chất lượng của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở chưa cao, công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đất đai, tài nguyên, khoáng sản… còn bất cập; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn xảy ra… Đặc biệt, tình trạng suy thoái phẩm chất, đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn hiệu quả, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước chính là dịp chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường phấn đấu xây dựng và phát triển đất nước, quê hương, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn giá trị, những bài học kinh nghiệm được tổng kết từ trong thực tiễn đấu tranh của dân tộc để tiếp thêm sức mạnh, ý chí quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chúng ta càng tự hào về lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc, của quê hương thì càng phải nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm vận dụng và phát triển những bài học, kinh nghiệm quý giá trong cách mạng giải phóng dân tộc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Đại thắng Mùa xuân 1975 vào công cuộc đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trước mắt là hăng hái thi đua lập thành tích chào mừng đại hội đảng bộ các cấp hướng tới Đại hội lần thứ XII của Đảng.

BTO

Xem tin theo ngày
Thông tin cần biết
Trao tiền bạn đọc hỗ trợ chị Phương

BT- Báo Bình Thuận vừa trao số tiền 3.500.000 đồng của bạn đọc (Khách sạn Bình Minh 2.000.000 đồng; chị Nguyễn Ngọc Như Ý, phường Phú Trinh, Phan Thiết 1.000.000 đồng và gia chủ số nhà 95 Trần Phú, Phan Thiết 500.000 đồng) hỗ trợ cho ba mẹ con chị Nguyễn Thị Bé Phương, ở thôn Hòn Mốc, xã Sông Bình (Bắc Bình) có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chị Phương đang mắc căn bệnh hiểm nghèo.

Xem chi tiết
“Kênh rác” bốc mùi nồng nặc trong khu dân cư

BTO- Những ngày qua, thời tiết nắng nóng, oi bức, cũng đồng nghĩa với “kênh rác” tại cửa biển thuộc thôn Hà Thủy 1, xã Chí Công, huyện Tuy Phong bốc mùi hôi thối hơn bao giờ hết. Mặc dù tình trạng này đã được Báo Bình Thuận phản ánh khá lâu nhưng đến nay hiện trạng vẫn như cũ, thậm chí rác ngày càng nhiều và bốc mùi hôi thối hơn trước.

Xem chi tiết
 Muốn xin lại hồ sơ bệnh án cần thủ tục gì?

 BTO- Trong tháng 4/2018, tôi có đưa vợ đi Hà Nội do bệnh đột ngột vào nhập viện Bạch Mai, Hà Nội. Đến ngày 16/4/2018 vợ tôi chết tại Bệnh viện: KHOA HS C1 - VIỆN TIM MẠCH - BV BẠCH MAI; có giấy báo tử của Bệnh viện. Tôi muốn xin lại hồ sơ bệnh án để làm thủ tục bảo hiểm nhưng không có điều kiện đi Hà Nội. Tôi muốn ủy quyền cho người bạn đến nhận có được không? Thủ tục như thế nào? Kính mong Quý luật sư tư vấn. Xin chân thành cám ơn.

Xem chi tiết
Ông Em đã nộp đủ số tiền thu nợ cho công ty

BT- Một số cử tri xã Măng Tố, Tánh Linh phản ánh: Ông Lê Đức Em, cán bộ xã Măng Tố đã thu tiền nợ dự án dâu tằm tơ của các hộ dân từ nhiều năm trước, nhưng đến nay mới đưa phiếu thu là không đúng quy định của pháp luật. Các ngành chức năng huyện cần xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng tiền của nhân dân đối với ông Em.

Xem chi tiết
Ngã ba Hòa Thắng: Điểm đen tai nạn giao thông

BT- Ngã ba Hòa Thắng nằm trên tỉnh lộ 715 xã Hòa Thắng (huyện Bắc Bình). Đây là tuyến đường dẫn đến các điểm du lịch nổi tiếng như Bàu Trắng, Mũi Yến và các điểm du lịch lân cận.

Xem chi tiết
Xã Phong Nẫm (Phan Thiết): Gần 50 hộ dân chưa có điện lưới sử dụng

BT- Nằm cách tuyến đường dẫn từ xã Phong Nẫm (Phan Thiết) đi xã Hàm Hiệp (Hàm Thuận Bắc) chưa đến 1km, nhưng nhiều năm qua gần 20 hộ dân ở khu Bờ Kênh đôi thuộc tổ 9, thôn Xuân Phú, xã Phong Nẫm vẫn chưa được sử dụng điện nhà nước.

Xem chi tiết
Hỗ trợ trực tuyếnHotline: 0918680377 - 0623604533